Thứ Bảy, 5 tháng 12, 2015

Bài II - Hướng dẫn đàn bài nhạc

1/. Các ký hiệu thường gặp trong bài nhạc.
a). Các dấu hóa.

- Dấu thăng : nâng nhạc âm lên nữa cung.
- Dấu giáng : giảm nhạc âm xuống nữa cung.
- Dấu bình  : hủy bỏ hoàn toàn ảnh hưởng của dấu thăng hoặc dấu giáng.
 Dấu hóa đặt sau khóa nhạc và xuất hiện đầu mỗi dòng nhạc, nằm ở vị trí của nốt nào thì tất cả các nốt cùng tên đều bị ảnh hưởng trong suốt bài nhạc. Nếu xuất hiện trong ô nhịp nào thì chỉ ô nhịp đó bị ảnh hưởng.







b). Các dấu lặp lại (luôn xuất hiện một cặp trong bài nhạc). 
- Dấu lặp lại : có 2 dấu điểm đầu và điểm cuối, dùng để lặp lại đoạn nhạc. Đối với bài nhạc có 2 lời trở lên thì sau khi lặp lại, đoạn nhạc giữa ô nhịp có đánh số 1 và dấu lặp lại điểm cuối được bỏ qua, chỉ đàn tiếp từ ô nhịp có đánh số 2 trở đi (xem hình minh họa).
- Dấu hồi     : dùng để trở về đầu tác phẩm.
- Dấu coda  : dùng để kết thúc một tác phẩm. Đối với bài nhạc có đoạn kết, để kết thúc thì đoạn nhạc giữa 2 dấu coda được bỏ qua, chỉ đàn tiếp từ dấu coda thứ hai trở đi cho đến hết bài.
 Nếu bài nhạc có cả ba dấu trên thì thứ tự ưu tiên sẽ là dấu lặp lại, dấu hồi và dấu coda. Như bài nhạc dưới đây: 








Ta sẽ đàn bài nhạc này theo thứ tự các ô nhịp đã được đánh số từ 1 đến 25.

2/. Xem nốt và đàn.
Đến bài này, nếu các bạn đã học thuộc tên nốt và vị trí của các nốt trên cần đàn là có thể tự xem nốt và đàn được một bài nhạc rồi.
Để giúp các bạn hiểu hơn, tôi sẽ hướng dẫn đàn một đoạn nhạc mẫu “Mùa xuân trên thành phố Hồ Chí Minh” dưới đây.
























Hướng dẫn luyện tập:
- Các số trên mỗi nốt: số đầu là số dây, số cuối là số ngăn trên cần đàn (số 0 là dây buông). ngăn thứ nhất sử dụng ngón trỏ, ngăn thứ hai sử dụng ngón giữa, ngăn thứ ba sử dụng ngón áp út và ngăn thứ tư, thứ năm sử dụng ngón út. Đây chỉ là bài hướng dẫn luyện tập, thực tế bạn nên học thuộc tên và vị trí của các nốt nhạc trên cần đàn chứ không nên viết ra như vầy.
- Các dấu mũi tên màu xanh là phách đập xuống. Ở đây không vẽ phách nhấc lên vì để tránh khó nhìn cho bài nhạc. Chi tiết hơn bạn xem lại đoạn nhạc mẫu này trong bài “nhịp và phách”.
- Trong bài có các dấu luyến dùng để luyến láy khi ca. Khi đàn ta vẫn đàn bình thường. Nếu dấu luyến nối 2 nốt giống nhau (như khoanh tròn màu đỏ trong hình) thì ta chỉ đàn nốt đầu, không đàn nốt sau. Phách vẫn đập bình thường.
Nhận xét:
- Bài này được viết ở nhịp 2/4 nên có 2 phách trong mỗi ô nhịp. Nốt láy (khoanh tròn màu xanh trong hình) không có giá trị tính phách do có dấu gạch xuyên (tôi gạch lại màu đỏ cho dễ thấy), chỉ để vuốt từ nốt Rê lên nốt Fa cho hay mà thôi.                                                                 
- Bài này có dấu hóa Si giáng ở đầu mỗi dòng nhạc nên tất cả các nốt Si đều phải giảm xuống nữa cung (trong đoạn nhạc trên thì không có nốt Si nào).
Chúc các bạn thành công.
                                                                                                       - Yến Thanh -

Bài I - Vị trí của các nốt nhạc trên đàn guitar và cách so dây

Lời nói đầu: Cũng như loạt bài trước, để tránh làm các bạn rối trí tôi sẽ không nói nhiều về các thuật ngữ và định nghĩa trong âm nhạc, chỉ trình bày những gì cần thiết cho việc tự học của các bạn. Sau này đàn giỏi, các bạn sẽ dễ tiếp thu hơn khi tự tìm hiểu nếu cần.
1/. Sơ lược về đàn guitar.
Đàn guitar có 2 loại dành cho classic và đánh “mộc” nhưng đều có chung 6 dây. Tên và số thứ tự của các dây buông đó là:
Dây số 1 …………… gọi là dây Mi   (dây trần nhỏ nhất).
Dây số 2 …............................... Si    (dây trần)
Dây số 3 …............................... Sol (có thể là dây trần hoặc dây bọc)
Dây số 4 …............................... Rê  (dây bọc)
Dây số 5 …............................... La  (dây bọc)
Dây số 6 …............................... Mi  (dây bọc to nhất).








2/. Vị trí của các nốt nhạc trên cần đàn.
Lấy dây thấp nhất (dây số 6 : Mi) làm chuẩn, dựa vào thứ tự cao độ (mục 3 bài 1-Nhạc lý cơ bản) và khoảng cách về cung giữa các ký âm (mục 2 bài 2-Nhạc lý cơ bản), ta được các nốt cơ bản trên cần đàn như hình trên.
Các bạn mới học chỉ cần bao nhiêu nốt đó là đủ để đánh được một bài nhạc rồi.
Và các nốt nhạc trên dòng kẻ tương ứng với các nốt trên cần đàn là :










Hướng dẫn thực tập : Các dây buông không bấm, ngăn thứ nhất sử dụng ngón tay trỏ để bấm nốt, ngăn thứ hai sử dụng ngón giữa, ngăn thứ ba sử dụng ngón áp út và ngăn thứ tư, thứ năm sử dụng ngón út. Các bạn vừa bấm vừa đọc tên nốt cho quen.
Còn đây là tên đầy đủ của các nốt trên cần đàn (cũng theo nguyên lý trên mà suy ra) :









3/. Cách lên dây đàn
Các bạn để ý các khoanh tròn màu đỏ ở ngăn thứ tư và thứ năm :
Nốt La trên dây số 6 chính là nốt La của dây số 5 (dây buông, 2 nốt này có cùng tần số à âm thanh giống nhau). Tương tự :
Nốt Rê trên dây số 5 chính là nốt Rê của dây số 4.
Nốt Sol trên dây số 4 chính là nốt Sol của dây số 3.
Nốt Si trên dây số 3 (ngăn thứ tư) chính là nốt Si của dây số 2.
Nốt Mi trên dây số 2 chính là nốt Mi của dây số 1.
*** Từ đó ta sẽ so dây như sau : Thông thường ta sẽ lên dây Mi số 1 trước, vì nếu lên dây Mi số 6 trước, khi đến dây số 1 cao quá dễ bị đứt.
- Lấy chuẩn dây Mi số 1 ở một cao độ nào đó (hoặc sử dụng thiết bị hổ trợ lên dây đàn có bán trên thị trường).








- Bấm nốt Mi, ngăn thứ 5 của dây số 2 và chỉnh dây này cho bằng (tần số) âm thanh với dây số 1. Tương tự :
- Bấm nốt Si, ngăn thứ 4 của dây số 3 và chỉnh dây này cho bằng âm thanh với dây số 2 ;
- Bấm nốt Sol, ngăn thứ 5 của dây số 4 và chỉnh dây này cho bằng âm thanh với dây số 3 ;
- Bấm nốt Rê, ngăn thứ 5 của dây số 5 và chỉnh dây này cho bằng âm thanh với dây số 4 ;
- Bấm nốt La, ngăn thứ 5 của dây số 6 và chỉnh dây này cho bằng âm thanh với dây số 5. 
Thế là xong.
Hy vọng bài này sẽ bổ ích cho các bạn
*** Ghi chú: Trong bài có sử dụng một số hình ảnh trên mạng và tôi chú thích lại để các bạn dễ hiểu.
                                                                                                              Chào thân ái.
                                                                                                             - Yến Thanh -












Chủ Nhật, 18 tháng 10, 2015

Bài 5 - Tên các nốt nhạc.

Lời nói đầu:
Qua 4 bài viết, các bạn đã biết được một số kiến thức cơ bản nhất về nhạc lý, và đây cũng là bài cuối  trong chủ đề này. Loạt bài này không đi sâu vào chi tiết quá nhiều, và tôi cố gắng diễn đạt sao cho dễ hiểu nên chỉ dành cho các bạn muốn tự học đàn hoặc đã biết đàn nhưng không vững về nhạc lý. Ở trình độ cao hơn, tôi sẽ viết trong chủ đề khác.
Chúc các bạn được như ý và chân thành cám ơn các bạn đã theo dõi.
1/. Khuông nhạc.

Khuông nhạc có 5 dòng kẻ và 4 khoảng trống. vị trí trên mỗi dòng kẻ và khoảng trống tượng trưng cho một nốt nhạc.




2/. Các khóa nhạc và tên các nốt nhạc

Nhắc lại: để dễ nhớ, bạn nên xem lại thứ tự cao độ của các ký âm như đã trình bày ở mục 3 bài 1.
Hai khóa thường gặp là khóa Sol và khóa Fa. Một nốt nhạc trên khuông nhạc tùy loại khóa mà có tên gọi khác nhau.
a/. Khóa sol: dùng để đọc lời nhạc (đánh solo) trên bản nhạc, qui định nốt nằm trên dòng kẻ thứ hai là nốt Sol (nét vẽ đầu tiên của khóa Sol bắt đầu từ dòng thứ hai).








b/. Khóa Fa: dùng cho đàn Bass, qui định nốt nằm trên dòng kẻ thứ tư là nốt Fa (nét vẽ đầu tiên của khóa Fa bắt đầu từ dòng thứ tư).

Quan sát các bạn sẽ thấy, theo thứ tự cao độ của các ký âm, nốt trên dòng kẻ thứ tư của khóa Fa (nốt Fa) nếu ở khóa Sol sẽ được gọi là nốt Rê (khoanh tròn màu đỏ).












Tuy nhiên các bạn chỉ cần học thuộc các nốt trên khóa Sol là được rồi.
Mẹo: Đối với khóa Fa, hãy tưởng tượng ta bỏ đi dòng thứ 5 và thêm 1 dòng khác dưới dòng thứ nhất, khi đó ta đọc tên các nốt như trên khóa Sol.

Như vậy tên đầy đủ các nốt trên khóa Sol là:









Ghi chú :
- Tên nốt có dấu sắc và dấu huyền chỉ để phân biệt nốt trùng tên, không quan trọng.
- Đối với các nốt thấp quá và cao quá, người ta mượn thêm các dòng phụ khi viết, ngoài 5 dòng kẻ qui định.

Hy vọng loạt bài này sẽ giúp ích cho các bạn. Hẹn gặp các bạn trong chủ đề khác.
                                                                                                     Chào thân ái

                                                                                                    - Yến Thanh -

Thứ Bảy, 10 tháng 10, 2015

Bài 4 - Nhịp và phách

 Một bản nhạc được chia thành những “ nhịp ” và “ phách ” để giúp chúng ta phân biệt được những phần mạnh, nhẹ của âm thanh.
 Nhịp là những phần nhỏ có giá trị thời gian bằng nhau được lặp đi lặp lại đều đặn trong một bản nhạc, còn gọi là ô nhịp (hay 1 khuông).
 Giữa các ô nhịp có 1 vạch đứng để phân cách được gọi là vạch nhịp.
Mỗi nhịp lại chia thành những phần nhỏ hơn đều nhau về thời gian gọi là phách (khoanh tròn màu đỏ).











1/. Phách
Người ta lấy nốt đen làm chuẩn.  Như đã học ở bài 3 ta có giá trị trường độ của các nốt như sau :
Trường độ các nốt sẽ tạo thành các phách. Mỗi ô nhịp gồm 2, 3, hoặc 4 phách... (tùy loại nhịp) và có thể có 1 hoặc 2 phách mạnh và nhẹ. Phách mạnh thứ nhất luôn đứng đầu mỗi ô nhịp. Ví dụ như nhịp 4/4 dưới đây.






2/. Các loại nhịp.
Phân số xuất hiện ở đầu bản nhạc gọi là chỉ số nhịp.


- Tử số: xác định số phách có trong mỗi ô nhịp.
- Mẫu số: dùng để xác định trường độ thời gian của mỗi phách bằng một phần bao nhiêu của nốt tròn (từ đó tạo nên tiết tấu nhanh hay chậm cho bản nhạc), thông thường sẽ là 2, 4, hoặc 8.
Vì :            1 nốt tròn = 2 nốt trắng = 4 nốt đen = 8 nốt đơn
Nên :    - Nếu mẫu số là 2, thì giá trị mỗi phách sẽ bằng 1/2 nốt tròn (tức bằng nốt trắng)
             - Nếu mẫu số là 4, thì giá trị mỗi phách sẽ bằng 1/4 nốt tròn (tức bằng nốt đen)
             - Nếu mẫu số là 8, thì giá trị mỗi phách sẽ bằng 1/8 nốt tròn (tức bằng móc đơn)
Tóm lại : - Nếu chỉ số nhịp là 2/4 (đọc là nhịp hai bốn) thì mỗi nhịp có 2 phách, và mỗi phách có giá trị bằng 1 nốt đen (1/4 nốt tròn) như đoạn nhạc ở đầu bài viết.
               - Nếu là nhịp 6/8 thì mỗi nhịp có 6 phách, và giá trị mỗi phách là 1 móc đơn (1/8 nốt tròn).

*** Để dễ hiểu hơn, bạn hãy xem 5 đoạn nhạc dưới đây tượng trưng cho 5 nhịp thông dụng. Dãy số dưới đoạn nhạc là số phách có trong mỗi ô nhịp, còn dấu ‘ > ’ ở trên là phách mạnh (nơi chuyển hợp âm nếu cần).






















3/. Cách gõ nhịp.
Khi đánh đàn ta sẽ phải gõ nhịp bằng chân nên các bạn tập nhịp bằng chân cho quen và cố gắng tập cho đều, không lúc nhanh lúc chậm.
Qui tắc là đập xuống, nhấc lên là 1 phách. Đập xuống bao giờ cũng rơi vào đầu ô nhịp (phách mạnh)
Ta nhìn hình nốt mà tập thôi vì coi như bạn chưa biết đàn. Ví dụ như bản nhạc sau:
















Nhận xét:
            - Ô nhịp đầu tiên trong bài nhạc không nhất thiết phải đủ phách (bài này thì đủ) nhưng chân đập xuống vẫn phải rơi vào nốt nhạc đầu tiên (phách mạnh) của vạch nhịp.
            - Móc kép của chữ “về” không nằm ngay nữa phách lên (khoanh tròn màu đỏ) mà nằm lệch về phía sau một tí do có dấu chấm đứng sau móc đơn của chữ “này”(xem lại dấu chấm lặng ở bài 3). Dĩ nhiên xử lý nốt này chỉ để khi đàn và hát, còn nhịp đập vẫn phải đều.
            - Và cuối cùng bạn thấy, số phách trong mỗi nhịp luôn bằng 2.
                                                                       
- Yến Thanh -  

Thứ Năm, 8 tháng 10, 2015

Bài 3 - Nốt nhạc và các dấu lặng

1/. Các hình nốt và dấu lặng

Khi viết một ca khúc người nhạc sĩ sẽ sử dụng các hình nốt và dấu lặng sau:











Theo đó các nốt nhạc sẽ phát ra âm thanh, còn các dấu lặng thì không, chỉ để nghỉ nhịp. Thời gian nghỉ hoặc phát âm thanh tại nốt đó bao lâu tùy theo từng kiểu nốt hoặc dấu nghỉ như hình trên.

2/. Giá trị thời gian của các nốt và dấu lặng
Giá trị thời gian của các nốt.
Người ta lấy nốt đen làm chuẩn và phân chia như sau:

Tương tự thời gian nghỉ của các dấu lặng cũng vậy.











Đôi khi, dấu lặng xuất hiện là 1 dấu chấm sau một nốt hay một dấu lặng nào đó thì giá trị của dấu chấm đó bằng phân nữa giá trị của nốt hoặc dấu lặng trước nó.
Ví dụ:




Bài sau ta sẽ tìm hiểu về nhịp và phách

                                                                                                                     - Yến Thanh -

Thứ Hai, 28 tháng 9, 2015

Bài 2 - Tìm hiểu về Cung

Trong bài 1 chúng ta đã biết được thứ tự cao độ của các ký âm (nhắc lại: bạn cần phải ghi nhớ thứ tự này)
Bài này chúng ta sẽ tìm hiểu về cung, nó liên quan đến thứ tự đó.

1/. Quảng 8: Trước tiên ta nói về quảng 8.
Khoảng cách giữa 2 ký âm giống nhau trong thứ tự đó gọi là một quảng 8 (còn gọi là 1 octave)
Thí dụ:

2/. Cung

Khoảng cách giữa 2 ký âm trong 1 octave được gọi là cung









Nhìn quảng 8 dưới đây, ta cần ghi nhớ là:

a/. Bán cung: Khoảng cách giữa Si với Đô, và Mi với Fa là nữa cung, còn gọi là bán cung (màu xanh)


b/. Nguyên cung: Khoảng cách giữa các ký âm còn lại như từ  A qua B ; C qua D ; D qua E ; F qua G ; G qua A ; đều cách nhau một cung còn gọi là nguyên cung (gồm 2 bán cung). Nghĩa là giữa các ký âm này có 1 ký âm trung gian gọi là Thăng (ký hiệu bằng dấu ‘#’) hoặc Giảm (hay Giáng, ký hiệu bằng chữ ‘b’), như sơ đồ ở trên (màu đỏ).
Hiểu được điều này, khi bạn đang đánh đàn cho người khác hát, nếu họ có kiến thức về âm nhạc và yêu cầu bạn hạ xuống một cung (vì cao quá ca không nổi), thí dụ đang đánh ở gam La, thì bạn phải giảm xuống gam Sol hoặc yêu cầu hạ nữa cung thì bạn phải đánh gam Sol thăng (gọi là La giảm cũng được).
Điều này lý giải tại sao trên cây đàn organ có những phím đen xen kẻ với phím trắng, đó chính là những nốt thăng giảm trung gian giữa các ký âm như đã nói.



                                                                                                              - Yến Thanh -

Thứ Hai, 14 tháng 9, 2015

Bài 1 - Làm quen với các ký âm

   Chào các bạn !
 Âm nhạc là một món ăn tinh thần không thể thiếu trong cuộc sống chúng ta. Nhất là trong những buổi họp mặt gia đình, bạn bè, liên hoan, sinh nhật, đám cưới,…đều không thể thiếu những tiếng ca giúp vui. Đối với người hát thì sao cũng được, bởi vì “hát hay không bằng hay hát”. Tuy nhiên nếu hát đúng nhịp thì người nghe sẽ nghe hay hơn. Nhưng đối với người đàn thì bắt buộc bạn phải biết nhạc lý và đàn đúng nhịp thì người ta mới ca được.
Bạn hãy hình dung trên một sân khấu giao lưu “hát với nhau”, người nhạc công đàn theo một khán giả hát giao lưu không biết nhịp thì người nghe vẫn còn chấp nhận được, như tôi đã nói: “hát hay không bằng hay hát”. Nhưng nếu nhạc công cứ đàn theo nhịp của nhạc công, còn người hát cứ hát theo nhịp của người hát, thì bạn nghe rất là …chói tai. Nhưng khán giả chỉ trách người đàn chứ không trách người hát.
Thế nên loạt bài này nhằm để giúp các bạn muốn tự học đàn (guitar, organ) nắm vững một số kiến thức nhạc lý cơ bản, tự xem nốt để đánh một bài nhạc chưa từng nghe qua, cũng như tự soạn hợp âm cho một bản nhạc.
Chúng ta cứ học theo thứ tự từng bài một.
Ta bắt đầu nhé !
Trong bài này ta chỉ cần nhớ 3 điều là :

1/. Tên gọi của các ký âm trong âm nhạc (tân nhạc) là:  LA  SI  ĐÔ  RÊ  MI  FA  SOL  (7 ký âm).
2/. Các chữ cái tượng trưng cho các ký âm đó là :
     A (La)
     B (Si)
     C (Đô)
     D (Rê)
     E (Mi)
     F (Fa)
     G (Sol)
3/. Thứ tự cao độ (tức là từ thấp tới cao) của các ký âm đó lần lượt là như trên, tức là :
     A > B > C > D > E > F > G > A > …(cứ thế tiếp tục, nên học thuộc thứ tự này vì rất quan trọng về sau)

Bài này các bạn chỉ cần học thuộc bao nhiêu đó đủ rồi
Hẹn các bạn bài sau nhé !
Thân.
- Yến Thanh -